Bạch Lộ: thu khí bắt đầu, sống chậm lại và dưỡng âm
Bạch Lộ mở đầu quãng thu se lạnh, táo khí rõ dần. Bài nói về nếp ngủ sớm, cách mặc đúng lúc, ba nhóm thức ăn dưỡng âm, việc giảm cay tăng chua và ba cách chăm phế can tỳ.
Bạch Lộ đến khi trời cao mây nhạt, khí mát gió trong, mạnh thu kết thúc và trung thu bắt đầu. Gió mùa hạ dần nhường chỗ cho gió mùa đông, không khí lạnh tràn xuống từng đợt, thử khí tan, chênh nhiệt ngày đêm lớn, hơi nước trong không khí đêm xuống ngưng thành sương. Người xưa ghép bốn mùa với ngũ hành, thu thuộc kim, màu của kim là trắng, nên dùng chữ bạch để tả sương mùa thu.
Uống rượu, ăn lươn, ăn long nhãn
Mỗi dịp Bạch Lộ, người xưa dùng nếp, cao lương và ngũ cốc nấu thành rượu gạo, còn hứng sương trên lá để pha, gọi là rượu gạo Bạch Lộ. Rượu vị ngọt, tính hơi ấm, giúp đuổi hàn, kiện tỳ khai vị, bổ huyết dưỡng nhan, hoạt huyết thông lạc.
Tiết này lươn béo nhất. Vùng Giang Chiết có món lươn đường phèn, nấu từ lươn, mỡ lợn và đường phèn. Lươn vị ngọt tính bình, giúp kiện tỳ bổ phế, ích thận cố xung, khử phong trừ thấp, giải độc sát trùng.
Trời khô nên người ta thích món tư âm nhuận táo. Long nhãn là đặc sản Quảng Đông, Quảng Tây, chín vào tháng tám âm lịch còn gọi tháng quế. Long nhãn vị ngọt, tính ấm, vào tâm kinh và tỳ kinh, bổ ích tâm tỳ, dưỡng huyết an thần. Một số nơi có tục ăn long nhãn ngày Bạch Lộ, tin rằng ăn một quả bổ ngang một con gà.
Ngủ sớm, dậy sớm cùng gà
Hoàng Đế Nội Kinh nói: thu tam nguyệt, tảo ngọa tảo khởi, dữ kê câu hưng. Mùa thu nên ngủ sớm để dương khí thu lại, âm khí dần sinh; sáng gà gáy thì dậy để dương khí khai triển, giữ khí cơ của cơ thể khớp với tự nhiên.
Về mặc, trước Bạch Lộ dương khí còn nổi ở ngoài nên có thể xuân ủ thu đống, chưa cần thêm áo vội; chịu lạnh vừa phải giúp tấu lý khép dần, dương khí thu vào trong. Nhưng sau Bạch Lộ, cây cỏ tàn, sáng tối đều lạnh, phải thêm áo chăn kịp thời, không nên câu nệ thu đống nữa.
Chống táo từ trong nhà
Từ Bạch Lộ, khí hậu thu điển hình bắt đầu, tức thu chủ táo. Táo tà dễ hao tân dịch, gây khô miệng, khô môi, khô mũi, khô họng, đại tiện khô, da nứt nẻ. Cách phòng đơn giản là dùng máy tạo ẩm giữ độ ẩm trong nhà, nên dùng nước tinh khiết, và trồng thêm vài chậu cây xanh.
Ăn theo hướng dưỡng âm
Đông y cho rằng thu đông dưỡng âm, nên sau Bạch Lộ việc ăn uống trước hết phải dưỡng âm. Mè đen, óc chó, hạnh nhân, mật ong, ngân nhĩ đều tư âm dưỡng âm. Có thể thêm những vị vừa làm thuốc vừa làm ăn như mạch đông, sa sâm, tây dương sâm, thái tử sâm, bách hợp, hạnh nhân, xuyên bối, đều có tác dụng tốt với táo mùa thu.
Thiên Kim Yếu Phương của Tôn Tư Mạc thời Đường viết: thu bảy mươi hai ngày, tỉnh tân tăng toan, dĩ dưỡng can khí. Theo ngũ hành, kim khắc mộc, phế kim vượng thì can mộc suy; vị cay vào phế, vị chua vào can, nên phải giảm cay tăng chua để bảo dưỡng can khí. Vị chua thường dùng là ô mai, sơn tra, bạch thược, ngũ vị tử.
Trời chuyển lạnh nên không ăn nhiều đồ hàn lạnh, thay bằng thức tính ấm như long nhãn nhục, rượu gạo Bạch Lộ, gà ác; không ăn đồ táo nhiệt để khỏi thương âm hóa hỏa. Nên ăn thanh đạm, dễ tiêu để dưỡng vị khí. Người hiện đại đủ chất, không cần quá nhấn chuyện thiếp thu phiêu, nên bớt đồ béo ngọt và tăng thịt vịt, chạch, cá, tôm, thịt nạc, chế phẩm từ đậu đen.
Giữ tâm an, chăm ba tạng
Hoàng Đế Nội Kinh viết: thu tam nguyệt, sử chí an ninh, dĩ hoãn thu hình, thu liễm thần khí, sử thu khí bình, vô ngoại kỳ chí, sử phế khí thanh. Then chốt dưỡng thần mùa thu là giữ chí an yên: giữ dương khí và âm tân, tinh thần hướng vào trong, thu bớt khí thăng phát thì sang xuân dương khí mới dễ sinh.
Phế chủ về ưu, buồn lo dễ thương phế. Mùa thu nên nuôi cảm xúc lạc quan, trò chuyện nhiều với bạn bè để khỏi trầm uất; hoặc đi chơi thu, leo núi, ngắm cảnh để lòng an, thần khí thu lại.
Bạch Lộ cũng là lúc phòng bệnh. Chênh nhiệt ngày đêm tăng, thời tiết thất thường nên dễ cảm, viêm mũi, viêm phế quản, hen; trẻ nhỏ, người già và người có bệnh nền càng dễ lên cơn. Tiêu chảy mùa thu cũng phổ biến, phần nhiều do ăn uống không hợp và không thêm áo kịp. Người có bệnh tim mạch, mạch máu não nên theo hướng dẫn của bác sĩ để điều chỉnh thuốc, phòng huyết áp tăng khi chênh nhiệt lớn.
Trọng điểm mùa thu là dưỡng phế, sơ can và điều lý tỳ vị. Dưỡng phế bằng cách vỗ theo đường kinh phế và xoa các huyệt trên kinh phế. Sơ can bằng cách áp hai lòng bàn tay dưới vú tại huyệt kỳ môn, vuốt theo bờ sườn sang huyệt chương môn đối diện, mỗi lần ít nhất 120 lần, tới khi thấy dễ chịu và nóng lên. Điều lý tỳ vị bằng cách xoa ấn tam âm giao và cao hoang; tam âm giao kiện tỳ hòa vị, điều bổ can thận.
Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn y khoa. Người có bệnh hô hấp hoặc tim mạch nên hỏi thầy thuốc trước khi áp dụng.