Cốc Vũ: tiết cuối mùa xuân, dưỡng tỳ trừ thấp để bước vào hạ
Cốc Vũ mưa nhiều, hàn thấp còn vương. Bài nói rõ cách dưỡng tỳ thổ, phòng phong thấp và đau dây thần kinh, bốn món ăn theo thể trạng và ba huyệt cứu ngải kiện tỳ trừ thấp.
Cốc Vũ là tiết khí cuối cùng của mùa xuân. Trời ấm hơn rõ rệt nhưng mưa nhiều, hàn thấp vẫn còn vương, nên dưỡng sinh phải bám theo hai đặc điểm đó: giữ các tạng phủ vận hành bình thường, và chuẩn bị nền tỳ vị cho mùa hạ.
Dưỡng tỳ thổ, giữ tâm tình ổn định
Trong năm tạng, tỳ thuộc thổ, ưa khô mà ghét thấp. Cốc Vũ mưa dầm, ẩm cao nên tỳ dễ bị thấp khốn, biểu hiện là người nặng nề, ăn không ngon, đầy bụng, phân nhão. Vì thế trọng tâm là dưỡng tỳ thổ, và giữ tâm tình thoải mái, vì lo nghĩ nhiều thì tỳ càng yếu.
Sau Cốc Vũ, ẩm tăng nhanh còn nhiệt độ lên dần, dễ hình thành thấp ôn chi tà. Nên ăn thêm thức ăn kiện tỳ trừ thấp như rau mầm hương, đậu đen, ý dĩ, hoài sơn, cá diếc, để dọn đường cho tỳ vị trước mùa hè oi bức.
Phòng phong thấp, đau khớp và đau dây thần kinh
Thấp thịnh nên người bị phong thấp dễ tái phát. Ba việc nên làm:
- Tránh ở lâu nơi ẩm thấp. Người thường xuyên tiếp xúc nước phải đi ủng, đeo găng; phụ nữ mặc váy thì hạn chế để lộ khớp gối.
- Khớp từng bị chấn thương hoặc bong gân cần được giữ ấm và chăm sóc riêng, tránh nhiễm lạnh để khỏi tái phát.
- Giữ khả năng vận động của gân cốt, đừng ngồi lâu nằm lâu, nên vận động vừa sức mỗi ngày.
Cốc Vũ cũng là mùa cao điểm của đau dây thần kinh liên sườn, dây thần kinh tọa và dây thần kinh tam thoa. Cách phòng đơn giản nhất là điều hòa tình chí, giữ cảm xúc không dao động mạnh, vì can khí uất kết thì các chứng đau này dễ bùng.
Mặc áo đúng lúc, đừng để mồ hôi đầm rồi hứng gió
Cốc Vũ là lúc thời tiết chuyển từ khô sang mưa, chênh nhiệt sáng tối vẫn lớn, nên ra ngoài phải thêm bớt áo theo giờ. Giữ ấm là cần, nhưng mặc quá nhiều để toát mồ hôi rồi cởi ra thì càng dễ nhiễm lạnh. Đừng để mồ hôi đầm đìa rồi ngồi trước gió. Người cao tuổi có bệnh tim mạch càng phải chú ý, vì một lần nhiễm lạnh có thể kéo bệnh cũ tái phát.
Bốn món ăn cho tiết Cốc Vũ
Bốn món dưới đây chia theo bốn hướng: dưỡng huyết, hóa thấp, ôn bổ khí huyết và thanh lợi thấp nhiệt. Chọn món hợp thể trạng, đừng ăn hết.
- Cháo nếp đại táo bạch thược: gạo nếp 100 g, đại táo 20 g, bạch thược 15 g, tiểu mạch 20 g, mật ong 15 g. Gạo nếp ngâm nước lạnh một hai giờ, vớt ráo. Tiểu mạch và bạch thược bọc túi vải, đun với nước 20 phút rồi bỏ túi, giữ nước thuốc. Đại táo bỏ hạt cắt đôi, cho cùng gạo nếp vào nước thuốc, đun sôi rồi hạ nhỏ tới khi cháo nhuyễn, thêm mật ong. Món này dưỡng huyết điều kinh, hợp với nữ giới âm huyết hư.
- Trà phục linh trần bì: phục linh 15 g, trần bì 3 g. Rửa sạch, ngâm sơ, cho vào nồi với nước, đun sôi rồi hạ lửa vừa 40 phút, uống thay trà. Tác dụng kiện tỳ, lý khí, hóa thấp, an thần.
- Lươn hấp đảng sâm đương quy: lươn 500 g, giăm bông chín 150 g, đảng sâm 10 g, đương quy 5 g, gừng, hành, canh gà hai bát, rượu nấu, hồ tiêu, muối vừa đủ. Lươn làm sạch, trụng nước sôi, bỏ đầu đuôi, cắt khúc. Xếp lươn vào thố, đặt giăm bông, đảng sâm, đương quy lên trên, thêm hành gừng, rượu, hồ tiêu, muối, canh gà, bịt kín miệng thố, hấp khoảng một giờ. Món này ôn bổ khí huyết, mạnh gân xương, dùng cho người đau lưng mỏi gối do phong hàn thấp tý.
- Canh vịt ý dĩ khiếm thực bí đao: ý dĩ 30 g, khiếm thực 20 g, trần bì 6 g, thịt vịt 250 g, bí đao cả vỏ 250 g, gừng, muối, hồ tiêu, dầu ăn vừa đủ. Ngâm ý dĩ, khiếm thực, trần bì 30 phút. Vịt bỏ da mỡ, trụng bỏ máu, cắt miếng, xào sơ với gừng rồi cho ý dĩ, khiếm thực, trần bì, muối, hồ tiêu và nước nấu khoảng 45 phút, thêm bí đao nấu 15 phút nữa. Tác dụng kiện tỳ trừ thấp, lợi thủy tiêu phù, hợp với người cao huyết áp, đái tháo đường, béo phì, bệnh thận hoặc phù có thấp nhiệt.
Cứu ngải ba huyệt kiện tỳ trừ thấp
Dưỡng sinh phải tùy thời, tùy nơi, tùy người. Với thấp nhiệt chen nhau dễ thương tỳ, cứu ngải vừa ấm dương, lợi thấp, thông mạch, vừa phù chính khí để phòng bệnh từ khi chưa phát. Ba huyệt thường dùng:
- Túc tam lý: dưới mắt ngoài đầu gối 3 thốn, cách mào trước xương chày một dóng tay. Cứu hai bên, mỗi bên 3 đến 5 tráng, phòng bệnh và mạnh gân xương.
- Thiên khu: hai bên rốn, mỗi bên 2 thốn, dùng điếu ngải huyền cứu. Huyệt này thúc nhu động ruột, tăng vận lực dạ dày, hỗ trợ đầy bụng, sôi bụng, tiêu chảy, khó tiêu, buồn nôn.
- Âm lăng tuyền: mặt trong cẳng chân, chỗ lõm sau dưới mỏm trong xương chày, hợp huyệt của túc thái âm tỳ kinh, dùng điếu ngải huyền cứu. Cứu huyệt này thanh lợi thấp nhiệt, kiện tỳ lý khí, ích thận điều kinh.
Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn y khoa. Trước khi dùng món ăn, bài thuốc hay cứu ngải, nên hỏi thầy thuốc về thể trạng của mình.