Bỏ qua tới nội dung

Đại Thử: giải thử trừ thấp, liễm dương cố biểu giữa đỉnh nóng

Đại Thử là tiết nóng nhất năm, thử và thấp cùng cực. Bài nói về ba tục cũ, cách cứu ngải, ngâm chân, bốn món ăn thanh bổ và việc giữ dương khí khỏi tán ra ngoài.

Đại Thử: giải thử trừ thấp, liễm dương cố biểu giữa đỉnh nóng

Đại Thử là tiết thứ mười hai, cũng là tiết cuối của mùa hạ. Sao Bắc Đẩu chỉ vào cung Mùi, mặt trời đi tới kinh độ hoàng đạo 120 độ, thường rơi vào khoảng 22 đến 24 tháng 7 dương lịch. Lúc này hơi nóng cuồn cuộn, là giai đoạn oi bức nhất năm, nên mới gọi là đại thử.

Ba hậu và ba tục

Người xưa chia Đại Thử thành ba hậu: nhất hậu hủ thảo vi huỳnh, nhị hậu thổ nhuận nhục thử, tam hậu đại vũ thời hành. Nghĩa là trước hết đom đóm xuất hiện nhiều trong đám cỏ ẩm, sau đó trời oi nồng làm đất ẩm nhũn, cuối cùng mưa dông xuất hiện, đem lại chút mát ngắn ngủi. Ba hiện tượng ấy mô tả đúng cái nóng ẩm của tiết này.

Ba tục đáng nhắc:

  • Uống trà phục: trà nấu từ kim ngân hoa, hạ khô thảo, cam thảo và hơn mười vị thuốc khác, có tác dụng thanh lương giải thử.
  • Phơi gừng phục: vào tam phục, gừng thái lát hoặc ép nước, trộn với đường đỏ, phơi tới khi quyện đều rồi dùng. Món này điều lý chứng lão hàn vị và ho do cảm lạnh.
  • Ăn tiên thảo: Quảng Đông và Phúc Kiến có tục ăn tiên thảo, còn gọi là cỏ bột lạnh, để giải thử. Cây này dùng được cả làm thuốc và làm ăn.

Vì sao Đại Thử dễ mệt

Người xưa nói tiểu thử không thấy mặt trời, đại thử nắng nứt đá. Tiết này nắng gắt, mưa dông nhiều, độ ẩm cao, nắng và hơi nước cộng lại tạo môi trường thử thấp giao nhau ở mức cao nhất năm.

Trong khi đó dương khí tự nhiên rất thịnh, trao đổi chất của cơ thể tăng nhanh, dương khí nổi lên bề mặt, tấu lý mở, mồ hôi ra nhiều. Hệ quả thường gặp là thương tân hao khí, thấp khốn tỳ vị và tâm hỏa vượng, biểu hiện thành khô miệng khát nước, chóng mặt, mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng, tiêu chảy, bồn chồn, mất ngủ, thậm chí khởi phát bệnh tiêu hóa và tim mạch. Vì thế trọng tâm điều dưỡng là giải thử trừ thấp, liễm dương cố biểu.

Cứu ngải tỳ du và túc tam lý

Tỳ du ở lưng, dưới gai đốt sống ngực thứ mười một, cách đường giữa 1,5 thốn. Túc tam lý ở mặt ngoài cẳng chân, dưới độc tỵ 3 thốn, trên đường nối độc tỵ và giải khê. Đốt điếu ngải, hơ đúng huyệt với khoảng cách 2 đến 3 cm, tới khi da ửng hồng là đủ, mỗi huyệt khoảng 10 đến 15 phút, mỗi tuần 2 đến 3 lần. Cách này điều hòa âm dương, kiện tỳ hóa thấp.

Ngâm chân và vỗ đầu

Bài ngâm chân cho tiết này dùng ngải diệp 20 g, gừng 20 g, hoa tiêu 20 g, muối thô 30 g. Cho tất cả vào nồi với nước, sắc 30 đến 40 phút, lấy nước thuốc đổ vào chậu, chờ nước khoảng 45 độ C thì ngâm, trước khi ngủ 10 đến 15 phút, mỗi tuần 2 đến 4 lần. Tác dụng ôn kinh thông lạc, tán hàn trợ dương.

Với người hay nhức đầu, chóng mặt, có thể xoa huyệt bách hội ở đỉnh đầu bằng ngón cái khoảng 5 phút, tới khi thấy căng tức. Sau đó thả lỏng cổ tay, dùng đầu năm ngón tay vỗ nhẹ khắp da đầu 5 phút, mỗi ngày 3 đến 5 lần. Cách này khai khiếu, tỉnh thần, hồi dương.

Bốn món thanh bổ

Các món dưới đây thai phụ nên thận trọng, không để qua đêm, nấu ngày nào dùng ngày đó, và theo dõi phản ứng cơ thể khi ăn:

  • Canh vịt già hoài sơn liên nhục thạch hộc: vịt già 250 g, hoài sơn tươi 150 g, liên nhục 20 g, thạch hộc 15 g, ý dĩ 20 g, trần bì 3 g, gừng 2 lát, mật táo 2 quả. Ngâm liên nhục, ý dĩ, thạch hộc 30 phút, vịt và hoài sơn cắt miếng. Cho tất cả vào nồi với nước, đun sôi rồi hạ nhỏ khoảng 1 giờ, nêm muối. Tác dụng tư dưỡng bổ hư, kiện tỳ thẩm thấp an thần, hợp với người tỳ hư thấp khốn, đêm hè ngủ kém.
  • Nước ngũ đậu: đậu xanh, xích tiểu đậu, đậu nành, đậu đen, bạch biển đậu mỗi thứ 20 g, bạc hà 5 g, đường phèn vừa đủ. Ngâm ngũ đậu một giờ, nấu với nước, đun sôi rồi hạ nhỏ 30 phút, thêm bạc hà và đường phèn nấu 5 phút nữa, để nguội uống thay trà. Tác dụng giải thử lợi thấp, kiện tỳ ích thận, hợp người thể hư mà bị thử nhiệt kèm thấp.
  • Canh bí đao lá sen: bí đao tươi 300 g, lá sen tươi 1 lá. Rửa lá sen, bí đao gọt vỏ bỏ ruột thái lát, cho vào nồi với nước, đun sôi rồi hạ nhỏ 20 phút, nêm muối. Tác dụng thanh nhiệt giải thử, lợi niệu trừ thấp, sinh tân.
  • Cháo dưa hấu tây dương sâm: gạo 150 g, tiểu mục 80 g, vỏ dưa hấu 50 g, tây dương sâm 10 g, trần bì 3 g, gừng 2 lát, đường phèn vừa đủ. Vo gạo và ngâm sơ, vỏ dưa hấu rửa sạch thái miếng nhỏ, tây dương sâm và trần bì ngâm sơ, gừng thái sợi. Cho tất cả vào nồi với nước, đun sôi rồi hạ nhỏ tới khi thành cháo, thêm đường phèn. Tác dụng kiện tỳ dưỡng vị, ích khí sinh tân, khử thử hóa thấp.

Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn y khoa. Người có bệnh tim mạch, tiêu hóa mạn tính nên hỏi thầy thuốc trước khi áp dụng.

Chia sẻFacebookZalo

Bình luận

Đăng nhập để bình luận.

  • Chưa có bình luận nào.