Sương Giáng: tiết cuối mùa thu, ấm thận để chuẩn bị vào đông
Sương Giáng là tiết cuối thu, sáng lạnh trưa nóng, táo và hàn cùng lúc. Bài gợi ý cứu ngải cách gừng, xoa dũng tuyền bát liêu và một món canh bổ huyết dưỡng can.
Sương Giáng là tiết khí cuối cùng của mùa thu, đặc điểm nổi bật nhất là kết sương. Sau Sương Giáng, trời lạnh dần, cảnh sắc cuối thu hiện rõ: sáng sớm và chiều tối lạnh, giữa trưa lại khá nóng, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn, táo mùa thu rõ, các đợt không khí lạnh tràn xuống ngày càng thường xuyên. Cỏ cây khô, lá thu bay, ong bướm không còn, côn trùng lặng lẽ vào giấc ngủ đông để chuẩn bị cho sức sống năm sau.
Ăn hồng, ngắm cúc, lên cao
Sương Giáng vào mùa hồng chín, dân gian có câu sương giáng cật thị, sự sự như ý, nghĩa là ăn hồng trong tiết này thì mọi việc được như ý. Người ta tin hồng giúp ngự hàn giữ ấm, bổ gân xương, lại đem may mắn, thể hiện mong cầu sức khỏe và điều tốt lành.
Tiết này cúc nở rộ, là lúc thưởng cúc. Người xưa thường mang rượu đến trước hoa, tụ họp ngâm thơ. Dân gian có câu sương đả cúc hoa khai, cho rằng cúc qua sương càng tinh thần. Tục thưởng cúc và uống rượu cúc đã có từ lâu; sách Tục Tề Hài Ký thời Nam triều Lương đã ghi truyền thuyết gắn với rượu cúc ngày trùng dương.
Sương Giáng cũng là lúc leo cao nhìn xa. Đi lên cao giúp chức năng phế được thư sướng, còn nhìn xa giúp tâm trạng nhẹ nhõm và cảm nhận được vẻ đẹp hùng vĩ của thu.
Cứu ngải cách gừng ở quan nguyên, khí hải, mệnh môn
Ba huyệt dùng trong tiết này là quan nguyên ở bụng dưới, trên đường giữa trước, dưới rốn 3 thốn; khí hải cũng ở bụng dưới, trên đường giữa trước, dưới rốn 1,5 thốn; và mệnh môn ở vùng cột sống, chỗ lõm dưới gai đốt sống thắt lưng thứ hai, trên đường giữa sau.
Cách làm: gừng thái lát tròn đường kính khoảng 3 cm, dày khoảng 0,3 cm, dùng kim châm vài lỗ nhỏ trên lát gừng. Đặt lát gừng lên huyệt, nắn ngải nhung thành nắm hình trụ đặt lên trên, châm lửa, chờ cháy hết là xong. Mỗi tuần làm 2 lần. Tác dụng ôn trung tán hàn, cố thận.
Xoa dũng tuyền và bát liêu
Dũng tuyền nằm ở lòng bàn chân, chỗ lõm khi co bàn chân, khoảng giao điểm một phần ba phía trước và hai phần ba phía sau của đường nối từ khe ngón chân thứ hai, thứ ba tới gót chân. Bát liêu gồm thượng liêu, thứ liêu, trung liêu và hạ liêu, mỗi bên bốn huyệt, tổng cộng tám huyệt, nằm ở vùng cùng cụt, tương ứng bốn lỗ xương cùng thứ nhất đến thứ tư.
Cách làm: dùng đầu ngón cái hoặc ngón trỏ đặt lên huyệt, xoa ấn với lực vừa phải, mỗi lần 150 đến 200 vòng, mỗi ngày một lần. Tác dụng tư thận, điều bổ khí huyết.
Canh gà ác đương quy long nhãn
Món canh phù hợp để bồi bổ trong tiết này: gà ác một phần tư con, thịt nạc 100 g, đương quy 15 g, long nhãn nhục 10 quả, đại táo bỏ hạt 2 đến 3 quả, gừng 2 đến 3 lát, muối vừa đủ. Rửa sạch nguyên liệu, gà ác chặt miếng trụng nước sôi, thịt nạc thái lát. Cho tất cả vào nồi với 1.500 ml nước, khoảng 6 bát, đun sôi bằng lửa lớn rồi hạ nhỏ nấu thêm 1,5 giờ, nêm muối. Lượng này dùng cho 2 đến 3 người. Tác dụng bổ huyết dưỡng can, điều lý xung nhâm.
Điều cần nhớ
Điểm khó của Sương Giáng là táo và hàn cùng xuất hiện. Ăn quá nóng để chống lạnh thì dễ sinh nội nhiệt, làm táo nặng thêm; còn ăn quá nhiều đồ mát để dưỡng âm thì dễ thương tỳ vị. Cách dung hòa là giữ bữa ăn ấm, chín, mềm, đủ nước, thêm canh và cháo, bớt đồ khô rán. Người có bệnh khớp và người cao tuổi nên giữ ấm cổ, lưng, đầu gối và bàn chân, nhất là lúc sáng sớm.
Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn y khoa. Cứu ngải và dùng bài thuốc nên có hướng dẫn của thầy thuốc.