Bỏ qua tới nội dung

Thu Phân: nửa thu đã qua, giải táo là việc chính

Thu Phân chia đôi mùa thu, ngày đêm dài bằng nhau và táo khí lên rõ. Bài hướng dẫn phân biệt ôn táo với lương táo, chăm phế du đại trường du và bốn món ăn nhuận táo.

Thu Phân: nửa thu đã qua, giải táo là việc chính

Thu Phân là tiết thứ mười sáu, tiết thứ tư của mùa thu. Ngày này mặt trời gần như chiếu thẳng xích đạo nên khắp nơi ngày đêm dài bằng nhau, và tiết rơi đúng giữa chín mươi ngày thu, mang nghĩa chia đôi sắc thu.

Chuyển từ nóng sang lạnh

Dân gian có câu một trận mưa thu một trận lạnh, mười trận mưa thu mới mặc áo bông; lại có câu đêm Bạch Lộ Thu Phân, một đêm lạnh một đêm. Thu Phân đánh dấu phần lớn lãnh thổ đã vào thu mát, sáng sớm và chiều tối ai cũng cảm nhận được cái lạnh trong gió.

Người xưa chia Thu Phân thành ba hậu: nhất hậu lôi thủy thu thanh, nhị hậu trập trùng phôi hộ, tam hậu thủy thủy hạc. Nghĩa là âm khí thịnh nên sấm lặng dần; sâu vào hang ngủ đông, lấy đất mịn bịt cửa hang chống hàn; mưa ít, trời khô, đầm lầy bắt đầu cạn.

Hơn hai nghìn năm trước, các bậc đế vương đã tế trăng vào Thu Phân để cầu phúc; tục này về sau truyền xuống dân gian và cố định vào đêm rằm tháng tám, thành tục bái nguyệt, thưởng nguyệt. Người xưa còn ăn rau thu để cầu nhà yên người khỏe; rau thu là một loại rau dền dại, thanh nhiệt giải độc, lợi niệu, chỉ thống, minh mục. Tiết này cua rất béo, giàu canxi, phốt pho, sắt và vitamin A, nhưng tính hàn nên không ăn nhiều.

Ôn táo trước, lương táo sau

Ba tháng thu bắt đầu từ Lập Thu và kết thúc ở Sương Giáng. Thu Phân là quãng chuyển tiếp từ nóng sang lạnh: chênh nhiệt độ tăng, nền nhiệt giảm, mưa ít, dương khí thu dần, âm khí lớn dần, táo khí hiện rõ.

Trước Thu Phân còn dư khí thử nóng nên phần nhiều là ôn táo. Sau Thu Phân, nền nhiệt hạ dần nên phần nhiều là lương táo. Biểu hiện thường gặp là đau rát mũi họng, móng tay tóc khô, da khô. Giải táo chính là then chốt dưỡng sinh của tiết này.

Chăm phế du và đại trường du

Phế thông ứng với khí thu, lại biểu lý với đại trường, nên dưỡng sinh bằng huyệt trong Thu Phân lấy bổ dưỡng phế khí làm nguyên tắc, hai huyệt chính là phế du và đại trường du.

Phế du nằm ở lưng, dưới gai đốt sống ngực thứ ba, cách đường giữa 1,5 thốn. Mỗi tối trước khi ngủ, ngồi ngay ngắn, hai gối mở tự nhiên, hai tay đặt trên đùi, đầu ngay mắt nhắm, toàn thân thả lỏng. Hít khí vào lồng ngực, hai tay nắm hờ, gõ nhẹ vào phế du vài chục lần, đồng thời dùng lòng bàn tay vỗ nhẹ hai bên lưng từ dưới lên, kéo dài khoảng 10 phút.

Đại trường du nằm ở vùng thắt lưng, dưới gai đốt sống thắt lưng thứ tư, cách đường giữa 1,5 thốn. Hai tay xoa ấn hai bên huyệt lên xuống, mỗi lần 3 đến 5 phút, tới khi vùng da tại chỗ ấm lên.

Nuốt nước bọt và xoa bụng

Người xưa gọi nước bọt là quỳnh tương, ngọc tuyền, cho rằng tân dịch do tinh khí của thận hóa thành, nuốt xuống thì tư âm bổ hư, giáng hỏa. Mỗi ngày tập 3 lần, có thể mạnh thận kiện tỳ. Trình tự: tĩnh tâm, toàn thân thả lỏng, môi khép hờ, nhắm mắt, gõ hai hàm răng vào nhau có nhịp 36 lần, lực tùy độ chắc của răng; dùng lưỡi khuấy đều trong miệng, áp vào hai hàm, lợi và mặt răng 36 lần; khi nước bọt nhiều lên thì ngậm lại súc bằng hai má 36 lần, rồi nuốt chậm 3 lần, chú ý ý thủ đan điền.

Với người hay táo bón, có bài xoa bụng, cùng cụt và huyệt chi câu ở mặt sau cẳng tay, trên khớp cổ tay 3 thốn. Cách làm: xoa hai tay cho nóng, đặt gốc bàn tay lên bụng quanh rốn, xoa ấn ngược rồi xuôi chiều kim đồng hồ khoảng 5 phút; xoa ấn chi câu 5 đến 10 phút; cuối cùng chà nóng gốc bàn tay lên vùng cùng cụt khoảng 5 phút.

Bốn món cho mùa táo

Các món dưới đây thai phụ nên thận trọng, không để qua đêm, nấu ngày nào dùng ngày đó:

  • Canh gà thạch hộc sa sâm phục linh: thạch hộc 15 g, sa sâm 15 g, phục linh 15 g, gà ta bỏ da 250 g, gừng 2 lát, muối vừa đủ. Gà chặt miếng, cho tất cả vào nồi với nước, đun sôi rồi hạ nhỏ khoảng 1 giờ, nêm muối. Tác dụng tư âm nhuận táo, khử đàm chỉ khái.
  • Canh phổi lợn đảng sâm hoài sơn: nửa lá phổi lợn, đảng sâm 15 g, hoài sơn 15 g, mật táo 2 quả. Phổi lợn rửa sạch cắt miếng, xào cho ráo nước, cho cùng các vị vào nồi, đun sôi rồi hạ nhỏ 1 giờ, nêm muối. Tác dụng bổ phế cố biểu, ích khí kiện tỳ.
  • Cháo hoài sơn bách hợp: gạo 100 g, hoài sơn thái lát 20 g, bách hợp 20 g. Ngâm hoài sơn và bách hợp 3 giờ, vo gạo, cho tất cả vào nồi với nước, đun sôi rồi hạ nhỏ 30 phút. Tác dụng hóa đàm chỉ khái, mạnh tỳ phế.
  • Trà ô mai cúc hoa cam thảo: ô mai 9 g, cúc hoa 5 g, cam thảo sống 3 g, cho vào ấm với nước, đun sôi rồi lọc lấy nước uống. Món này sinh tân, làm dịu khô họng mùa táo.

Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn y khoa. Người có bệnh hô hấp mạn tính nên hỏi thầy thuốc trước khi áp dụng.

Chia sẻFacebookZalo

Bình luận

Đăng nhập để bình luận.

  • Chưa có bình luận nào.