Dấu hiệu bần, tiện, hung, yểu và cách đọc có trách nhiệm
Bốn nhóm điều kiện của cục xấu theo cổ pháp: nghèo, địa vị thấp, tai họa, yểu mệnh. Bài đối chiếu từng dòng và nói rõ chỗ nào nên bỏ.
Bài gốc của china95.net chia cục xấu thành bốn loại: bần, tiện, hung, yểu. Đây là mặt trái của bài phú quý cát thọ, và cũng là phần nhạy cảm nhất của mệnh học. Có hai việc phải làm cùng lúc: hiểu đúng kỹ thuật mà cổ nhân dùng, và nhận ra chỗ nào là định kiến của thời đại. Bỏ qua việc thứ hai thì bài học này trở thành công cụ làm người khác hoang mang.
Bần: dấu hiệu của sự nghèo
- Thương quan nhẹ mà tài nặng; tài nhẹ mà quan nặng.
- Thương quan nặng, ấn nhẹ, thân lại nhược.
- Tài nặng, kiếp nhẹ, thân lại nhược.
- Tài nhẹ, lại hỷ thực thương, mà ấn vượng.
- Tài nhẹ, kiếp nặng, thực thương không hiện.
- Tài nhiều, hỷ kiếp, mà quan tinh chế mất kiếp.
- Hỷ ấn mà tài phá ấn; kỵ ấn mà tài lại sinh quan.
- Hỷ tài mà tài bị hợp mất.
- Quan sát vượng mà cần ấn, tài lại đắc cục.
- Tài là kỵ thần; hoặc dùng tài mà tài bị xung phá.
Mẫu số chung của nhóm này là mất cân: cái cần thì bị phá, cái không cần thì mạnh. Nghèo ở đây không phải vì thiếu tài tinh, mà vì tài tinh không phục vụ được mục tiêu của cục.
Năm kiểu bần có phân biệt
Bài gốc không dừng ở chữ bần mà chia ra năm trường hợp, và cách chia này đáng học vì nó cho thấy nghèo có nhiều loại.
- Một: tài nhẹ quan suy, gặp thực thương mà lại thấy ấn. Kết quả là bần mà vẫn quý, tức nghèo tiền nhưng giữ được phẩm giá và địa vị xã hội.
- Hai: hỷ ấn mà tài phá ấn, nhưng được quan tinh cứu. Cũng là bần mà quý.
- Ba: quan sát vượng mà thân nhược, tài lại sinh quan sát. Nếu có ấn thì còn gỡ được một cách, vẫn là bần mà quý. Nếu không có ấn thì tài chỉ đủ làm cái mũ của nhà nho, tức thanh bần, học rộng mà trắng tay.
- Bốn: tài nhiều mà thân không nhận nổi, có người giúp thân nhưng không dùng được, lại không chịu theo tài. Trường hợp này vừa bần vừa tiện.
- Năm: tài ở năm tháng rất đẹp mà ngày giờ xung phá hết. Đây là kiểu trước giàu sau nghèo, hoặc phá sạch gia sản tổ tiên.
Tiện: một khái niệm cần đọc lại
Bài gốc định nghĩa tiện là tư tưởng xấu, hành vi thấp hèn, không phải tầng lớp thấp. Người ở tầng trên chưa chắc không tiện, người ở tầng dưới chưa chắc đã tiện. Tác giả còn nói chữ này khó phân biệt nhất, như kẻ giả quân tử, tiểu nhân giả, và cũng là chỗ khó nhất khi cân mệnh.
Các điều kiện được nêu: quan nhẹ ấn nặng mà thân vượng; quan nặng ấn nhẹ mà thân nhược; quan và ấn ngang nhau mà nhật chủ hưu tù; quan nhẹ, kiếp nặng, lại không có tài; quan sát nặng mà không có ấn; tài nhẹ, kiếp nặng, quan tinh tàng; quan vượng, hỷ ấn mà tài phá ấn; quan sát nặng, không ấn, lại bị thực thương cưỡng chế; quan nhiều, kỵ tài mà tài đắc cục.
Nói thẳng: đây là khái niệm mang định kiến nặng nhất trong cả bốn nhóm. Nó gán phẩm cách đạo đức cho một cấu trúc ngũ hành, và tác giả cũng thừa nhận khó phân biệt. Người học hôm nay nên giữ phần kỹ thuật, tức nhận ra thế cục lệch và thiếu chỗ dựa, và bỏ hẳn phần phán xét con người.
Hung: dấu hiệu của tai họa
Bài gốc định nghĩa hung là nghịch, là lỗi, là nghèo khổ dễ bị hình thương phá bại, nhiều hiểm ác. Nhìn chung, cục thiên khô mà không có cứu thì đều hung.
- Tài vượng mà thân nhược, lại không có chỗ dựa.
- Sát nặng thân nhẹ, không có thực thương và ấn thụ.
- Dùng quan mà nhiều thương quan, lại không có tài.
- Quan nhiều thân nhược mà không có ấn.
- Ấn và kiếp đều nặng mà không có tài.
- Đầy tỷ kiếp mà không có quan sát.
- Dùng thực thần mà nhiều kiêu thần.
- Kỵ sát mà nhiều tài.
- Đầy thực thương mà không có ấn.
- Hỷ ấn mà tài nhiều.
- Quan nhẹ mà ấn nặng.
- Hỷ quan mà thất sát lẫn vào.
- Ngoại cách đã thành mà bị phá.
Yểu: dấu hiệu của yểu mệnh
Đây là nhóm nặng nhất và cũng là nhóm phải nói dè dặt nhất.
- Ấn thụ quá vượng, nhật chủ không có chỗ nương.
- Tài và sát quá vượng, nhật chủ không có chỗ tựa.
- Kỵ thần và dụng thần lẫn lộn mà đánh nhau.
- Hỷ xung mà không xung; kỵ hợp mà lại hợp; kỵ xung mà lại xung; hỷ hợp mà không hợp. Bốn câu này nói về sự trẹo nhịp: cái cần động thì đứng yên, cái cần yên thì lại động.
- Nhật chủ thất lệnh, dụng thần mỏng mà kỵ thần sâu.
- Đại vận không có tình với dụng thần và tương thần, lại bè với kỵ thần.
- Thân vượng mà khắc và tiết đều không có.
- Trọng dụng ấn mà tài phá ấn; thân nhược gặp ấn mà thực thương trùng điệp.
- Kim hàn thủy lạnh mà thổ ẩm; hỏa viêm thổ khô mà mộc khô. Đây là hai thế khí hậu cực đoan, cổ nhân coi là dấu hiệu nặng.
Đọc thế nào cho có trách nhiệm
- Đây là bảng đối chiếu, không phải điểm số. Một hai dòng khớp không nói gì; phải xem có nhiều dòng cùng chỉ về một hướng hay không.
- Thứ tự nặng nhẹ: dụng thần bị phá nặng nhất, rồi tới thế thiên khô không cứu, rồi mới tới thần sát.
- Phân biệt bốn chữ. Bần nói về tiền, tiện nói về phẩm cách, hung nói về tai họa, yểu nói về tuổi thọ. Gộp chúng lại là sai phương pháp.
- Bỏ hẳn chữ tiện khi tư vấn cho người khác. Nó không có cơ sở để phán xét ai, và tác giả gốc cũng nói nó khó phân biệt nhất.
- Với nhóm yểu, tuyệt đối không kết luận. Cùng một cấu trúc có thể ứng với bệnh tật, tai nạn, hoặc không ứng gì. Nếu thấy dấu hiệu nặng, việc nên làm là nhắc giữ gìn sức khỏe và khám định kỳ, không phải nói ra một lời đoán về tuổi thọ.
- Nhớ bối cảnh: bảng này được viết khi chưa có y tế hiện đại, chưa có bảo hiểm, chưa có luật lao động. Nhiều dòng từng đúng vì môi trường sống khắc nghiệt, chứ không vì cấu trúc can chi có quyền quyết định.