Bỏ qua tới nội dung

Mười hai giai đoạn Trường Sinh: vòng đời của một dòng khí

Trường Sinh có 12 trạm từ sinh đến tử rồi tái sinh. Bài giải thích ý nghĩa từng trạm, cách an vòng theo ngũ hành cục và cách đọc vòng này trong tứ trụ.

Mười hai giai đoạn Trường Sinh: vòng đời của một dòng khí

Trường sinh là cách người xưa nhìn một dòng khí đi qua vòng đời của nó: sinh ra, lớn lên, sung mãn, suy tàn, chết, rồi tái sinh. Trong tứ trụ, vòng này dùng theo hai cách: an cho một thiên can để biết nó đang đứng ở trạm nào khi gặp từng địa chi, và dùng như bộ từ vựng mô tả tính khí con người trước thuận cảnh lẫn nghịch cảnh. Mười hai trạm là Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vương, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.

Mười hai trạm và nghĩa của từng trạm

  • Trường Sinh: khí vừa phát, sinh sôi, đổi mới. Gặp ở mệnh là cát, chủ thân thể khỏe khoắn, tinh thần vui tươi, có khả năng thích nghi và sáng tạo. Kỵ đồng cung với Không Vong, kỵ gặp sao đào hoa vào vận tuổi già.
  • Mộc Dục: nghĩa là tắm rửa, chủ đào hoa và bại khí. Ở mệnh và thân thì đa tình, phong lưu; ở cung vợ chồng thì đôi lứa hòa hợp; vào cung tài thì ham tửu sắc, lười biếng, bỏ bê công việc. Trạm này không kỵ Không Vong mà lại ưa Không Vong, vì đào hoa gặp Không Vong chuyển thành tài hoa.
  • Quan Đới: chủ hỷ khánh về thành tựu công việc. Ở mệnh và thân là cát, có chút quý khí; vào vận thì thành công nhỏ, có tiền vào. Hình ảnh là người trưởng thành đội mũ, cài trâm.
  • Lâm Quan: hỷ khánh nghiêng về công danh, bổng lộc. Nhập mệnh và thân thì chủ quý; gặp tuế vận thì mưu sự như ý. Nghĩa gốc là đến nhiệm sở nhận việc, có khả năng độc lập xét đoán, nên còn gọi là lâm lộc.
  • Đế Vương: chủ vượng tráng, quý và cát. Vào vận thì làm việc như ý, tiến lộc, thêm con. Hình ảnh là tuổi sung mãn, quyền vị tới đỉnh, nên đã hàm chứa mầm suy.
  • Suy: chủ đồi bại. Ở mệnh và thân thì thiếu chí tiến thủ, gặp việc dễ buông. Vào vận thì hay chuốc thị phi, bệnh tật, hao tiền, công việc thoái lui.
  • Bệnh: phần nhiều chủ bệnh, bất lợi cho sức khỏe. Kỵ nhập mệnh, thân và cung tật ách; vào vận thì ốm đau, mất tiền, lại càng không nên gặp Bệnh Phù. Trạm này thường đóng đúng vị trí lục xung với Trường Sinh.
  • Tử: chủ mất mát, tang vong. Ở mệnh và thân là thiếu sinh khí; vào vận thì gặp họa, mưu sự sai đường, có khi cốt nhục ly tán. Người mang trạm này thường cố chấp, khó biến thông, dễ bị lợi dụng.
  • Mộ: chủ thu tàng, tích tụ, an định. Ở mệnh và thân thì an ổn; ở cung tài là kho tiền; ở cung quan lộc là kho chức tước; gặp ác sát thì thành kho bị cướp; ở cung thiên di thì thiếu khả năng xoay nghề.
  • Tuyệt: chủ cô độc, tuyệt diệt. Ở mệnh và thân thì cô độc, lìa gốc tổ tiên; ở cung con cái thì ngăn cách thế hệ. Riêng ở cung tật ách lại chủ thân thể khỏe mạnh. Vào vận thì gặp họa, ốm, thất bại.
  • Thai: chủ kết tụ, hy vọng, cái vui của người đã chuẩn bị hoặc đang mong đợi. Ở mệnh và thân thì ổn định, đầy tiềm lực, bình an; vào vận thì hy vọng dồi dào, việc chuẩn bị có thể thành. Hình ảnh là khí tinh đang được thai nghén trong bụng mẹ.
  • Dưỡng: chủ phúc. Ở mệnh và thân là bình an, tích lũy, tiến dần từng bước; vào vận thì được người giúp, mưu sự vừa có hy vọng vừa có trợ lực nên dần đầy đủ. Hình ảnh là thai nhi hấp thu dưỡng chất, lớn lên nhờ sữa mẹ, hàm ý có phần không nhọc mà vẫn hưởng.

Cách an vòng Trường Sinh

Vòng được an theo ngũ hành cục, lấy một địa chi làm điểm khởi đầu: Thủy nhị cục khởi Trường Sinh ở Thân, Mộc tam cục khởi ở Hợi, Kim tứ cục khởi ở Tỵ, Thổ ngũ cục khởi ở Thân, Hỏa lục cục khởi ở Dần. Bài gốc lý giải điểm khởi đầu bằng quan hệ tương sinh giữa địa chi và hành của cục, chứ không chọn ngẫu nhiên.

Từ điểm khởi đầu, can dương đi thuận, can âm đi nghịch. Can Giáp: Trường Sinh ở Hợi, Mộc Dục ở Tý, Quan Đới ở Sửu, Lâm Quan ở Dần, Đế Vương ở Mão, Suy ở Thìn, Bệnh ở Tỵ, Tử ở Ngọ, Mộ ở Mùi, Tuyệt ở Thân, Thai ở Dậu, Dưỡng ở Tuất. Can Ất đi ngược: Trường Sinh ở Ngọ, Mộc Dục ở Tỵ, Quan Đới ở Thìn, Lâm Quan ở Mão, Đế Vương ở Dần, rồi lùi dần về Sửu, Tý, Hợi, Tuất, Dậu, Thân, Mùi.

Đọc vòng Trường Sinh trong tứ trụ

  • Nhật chủ gặp Trường Sinh, Lâm Quan hoặc Đế Vương ở nguyệt lệnh hay nhật chi thì gọi là có gốc: tự tin, sức bền tốt, chịu được việc nặng.
  • Gặp Tử, Mộ, Tuyệt ở nhật chi mà thiếu ấn và tỷ kiếp nâng đỡ thì dễ đuối sức trước việc lớn. Ở Tuyệt địa không có nghĩa thân thể yếu ớt, chỉ là tinh thần dễ nhụt khi gặp thất bại.
  • Trường Sinh rất kỵ Không Vong, vì sinh khí bị hư không thì khó thành. Ngược lại Mộc Dục ưa Không Vong, vì sắc dục bị hư không thì chuyển thành tài năng và sự tinh tế.
  • Mộ là kho: tài tinh nhập mộ là tiền đã vào kho, cần một lần xung để mở; quan tinh nhập mộ là chức vị còn ẩn.
  • Thai và Dưỡng là trạm của người đi chậm mà chắc: hợp tích lũy lâu dài, học nghề, gây vốn; không hợp đánh nhanh thắng nhanh.
  • Xét đại vận và lưu niên: đoạn Trường Sinh đến Đế Vương thường sung sức, nên đẩy mạnh công việc; đoạn Suy đến Tuyệt nên giữ gìn sức khỏe, tránh mở rộng liều lĩnh.

Chuyển khung tử vi sang tứ trụ

Bài gốc nằm trong mục bát tự nhưng dùng ngôn ngữ tử vi: mệnh, thân, tật ách, vợ chồng, hạn. Khi đọc theo tứ trụ, hãy chuyển nghĩa: mệnh ứng nhật chủ và trụ ngày; thân ứng trụ giờ hoặc toàn cục; hạn ứng đại vận, lưu niên; tật ách ứng sức khỏe; vợ chồng ứng trụ ngày cùng tài tinh hoặc quan tinh.

Dùng thế nào cho đúng

Mười hai trạm là thước đo nhịp đi của khí, không phải bản án. Nhật chủ ở Đế Vương mà cục khuyết dụng thần vẫn có thể lận đận; nhật chủ ở Tuyệt mà được ấn sinh vẫn có thể thành công bền. Hãy đọc vòng này như lớp thông tin thứ hai: nó nói về phong thái và nhịp hưng suy, còn quyết định vẫn ở sinh khắc và dụng thần.

Chia sẻFacebookZalo

Bình luận

Đăng nhập để bình luận.

  • Chưa có bình luận nào.