Bỏ qua tới nội dung

Tam Mệnh Thông Hội: bộ bách khoa của mệnh lý tứ trụ

Giới thiệu bộ sách 12 quyển của Vạn Dân Anh đời Minh: vị trí trong dòng mệnh học, cấu trúc, đánh giá của Tứ Khố Toàn Thư và cách đọc hôm nay.

Tam Mệnh Thông Hội: bộ bách khoa của mệnh lý tứ trụ

Tam Mệnh Thông Hội là một trong những bộ sách lớn nhất của mệnh lý tứ trụ, do Vạn Dân Anh, tiến sĩ đời Minh, biên soạn. Sách gồm 12 quyển, được Tứ Khố Toàn Thư đời Thanh thu vào cùng bộ Tinh Học Đại Thành của chính ông và đánh giá cao. Vạn Dân Anh không chỉ viết luận giải riêng, ông còn gom tinh hoa của hơn ba mươi nhà trước đó, nên sách vừa là trước tác vừa là hợp tuyển.

Vị trí trong dòng mệnh học

Tam Mệnh Thông Hội thường được xếp cùng Uyên Hải Tử Bình, Tinh Bình Hội Hải, Ngự Định Tử Bình và Tử Bình Chân Thuyên, gọi chung là ngũ đại danh tác của mệnh học truyền thống.

Sách thuộc dòng cổ pháp chính tông, lấy tài quan và cách cục làm trục. Điều này khác với hệ thống đang thịnh hành ngày nay, vốn lấy cân bằng cường nhược, điều hậu, phù ức của Đích Thiên Tủy và Cùng Thông Bảo Giám làm nền. Bài gốc của china95.net nói thẳng: nhiều người đem lý thuyết hai sách sau để chú giải Tam Mệnh Thông Hội, và đó là đi chệch đường của mệnh học. Đây là nhận định cần cân nhắc, nhưng nó cho thấy sách thuộc về một truyền thống khác, không phải bản tiền thân của trường phái hiện đại.

Cấu trúc mười hai quyển

  • Chín quyển đầu lần lượt ứng với mười thiên can. Mỗi can lấy ngày làm chính, tháng làm lõi, giờ làm phụ, từ đó định cát hung. Cách bố cục này cho phép người đọc tra thẳng theo can ngày của mình.
  • Ba quyển cuối tập hợp phú, ca, quyết. Đây là phần có giá trị thực hành cao nhất và cũng là phần được truyền tụng nhiều nhất, vì nó cho ra câu chốt thay vì lời bàn dài.
  • Sách tổng kết hơn hai trăm năm phát triển của thuật suy mệnh bát tự, chọn phần tinh hoa, gạt bỏ những thuyết rườm rà thiếu căn cứ, nhờ đó hệ thống trở nên hoàn bị và lý luận đạt tới đỉnh.
  • Về thể loại, sách nặng tính bách khoa: có luận, có phú, có ví dụ lá số, có phụ lục. Người đã có nền thấy đây là chỗ tra cứu tiện nhất.

Những thiên được dẫn nhiều nhất

Phần hợp tuyển dẫn lại nhiều thiên nổi tiếng của các nhà trước: Nguyên Diệu Luận, Tạo Vi Luận, Nhân Giám Luận, Tinh Vi Luận, Nguyên Lý Phú, Tiêu Tức Phú, Chân Bảo Phú, Khí Tượng Thiên, Hỷ Kỵ Thiên, Kế Thiện Thiên, Lục Thần Thiên, Ngọc Tỉnh Áo Quyết, Khán Mệnh Khẩu Quyết, Cốt Tủy Ca, Tứ Ngôn Độc Bộ, Ngũ Ngôn Độc Bộ, Kinh Thần Luận, Sưu Tủy Ca.

Vì gom nhiều nguồn, sách có chỗ các thiên mâu thuẫn nhau về cách lập luận. Cần nhớ: đây là hợp tuyển có chủ biên, không phải một lý thuyết duy nhất.

Tứ Khố Toàn Thư đánh giá ra sao

Mục lục Tứ Khố Toàn Thư ghi: sách không đề tên người soạn, đầu sách chỉ ghi Dục Ngô sơn nhân. Minh sử Nghệ văn chí có Vạn Dân Dục với Tam Mệnh Hội Thông mười hai quyển, số quyển khớp, chỉ khác chữ thông hội bị đảo thành hội thông. Bộ Tinh Học Đại Thành là của Vạn Dân Anh, tự Dục Ngô, khớp với đầu đề, nên sách này cũng do ông viết. Sử chép nhầm Dân Anh thành Dân Dục và đảo hai chữ, chỉ vậy thôi.

Từ đời Minh, người bàn tinh mệnh đều lấy bản này làm tổng hối, gần như nhà nào cũng có một bộ. Trong sách có những lá số của quan lại cuối đời Minh, đó là do phường in đời sau chèn vào, không còn là bản gốc.

Về giá trị, sách phát huy di pháp của Tử Bình: nghĩa của quan, ấn, tài, lộc, thực, thương; nặng nhẹ của dụng thần; cát hung của các thần sát. Ở cả ba mặt ấy sách đều chắt lọc được cái tinh yếu, nên nhà nghề dùng mãi và không thể bỏ.

Phần phê bình cũng đáng chú ý. Sách lập luận thiên về chính quan, chính ấn, chính tài mà không biết thiên quan, thiên ấn, thiên tài cũng có thể đắc lực; biết thực thần có thể thổ tú mà không biết thương quan cũng có thể xuất kỳ. Đó là chỗ thiên chấp, chưa tròn. Các luận về thai nguyên đem áp vào ngày nay phần nhiều không nghiệm. Người học chỉ nên nắm đại ý rồi biến thông.

Mục lục còn nhắc chi tiết đáng chú ý: chỗ sách dẫn Lạc Lục Tử khác xa bản trong Vĩnh Lạc Đại Điển, vì thời ấy bí sách chỉ còn trong cung, ngoài không ai thấy, nên tác giả tin nhầm bản giả. Chỗ này không đáng coi là bệnh.

Tác giả Vạn Dân Anh

Vạn Dân Anh sống từ 1521 đến 1603, tự Nhữ Hào, hiệu Dục Ngô, tổ tiên ở Giang Hạ. Ông nội là Vạn Nghĩa, từ chức Ngự sử bị giáng xuống thú Đại Ninh Đô ty, nên gia đình dời về thành Dịch Châu. Năm 1549 ông trúng cử, năm sau đỗ tiến sĩ, lần lượt giữ chức Giám sát Ngự sử đạo Hà Nam và Tham nghị binh bị Phúc Kiến.

Khi giặc biển quấy Phúc Kiến, ông được lệnh giữ Tuyền Châu. Ông tận chức, thân hành xông trận, đánh thắng nhiều trận liên tiếp. Tính cương trực nên đắc tội quyền quý, bị hãm hại, nhân dịp đưa linh cữu mẹ về quê mà rời hẳn chốn quan trường, ẩn cư hơn ba mươi năm. Thời gian này ông mở trường làng, thu học trò, làm việc thiện, mỗi năm dựng cháo cứu dân bốn phương.

Ông để lại Kinh Dịch Hội Giải, Tam Mệnh Thông Hội, Tinh Học Đại Thành, Lan Đài Diệu Tuyển, Âm Phù Kinh, Tướng Tự Tâm Kinh, cùng một số tác phẩm lưu ở nhà như Đạo Đức Kinh Giải, Ngôn Chí Mạn Cảo. Ông mất năm 1603, thọ 82 tuổi.

Cách đọc hôm nay

  • Mở đúng quyển theo can ngày của mình, vì chín quyển đầu chia theo thiên can. Đọc lần lượt phần ngày, tháng, giờ trong quyển ấy.
  • Đọc kèm Uyên Hải Tử Bình để nắm gốc lý thuyết, vì Tam Mệnh Thông Hội giả định người đọc đã biết cách lập cục.
  • Về văn bản, cổ bản đầy đủ nhất là bản Văn Uyên Các trong Tứ Khố Toàn Thư; bản hiện đại đầy đủ nhất thường được nhắc là bản tăng quảng hiệu chính.
  • Đừng đọc như sách dạy công thức: đây là sách tra và đối chiếu, hợp để kiểm chứng một luận điểm hơn là học từ đầu.
  • Giữ thái độ phê bình như chính Tứ Khố Toàn Thư: nắm đại ý, biến thông, bỏ phần đã lỗi thời như thai nguyên và những câu mang định kiến xã hội cũ.
Chia sẻFacebookZalo

Bình luận

Đăng nhập để bình luận.

  • Chưa có bình luận nào.