Bỏ qua tới nội dung

Xem con cái qua bát tự: cung tử tức và con tinh

Trụ giờ là cung con cái; với nữ là thực thương, với nam là quan sát. Bài gom các câu quyết cổ về số con, tính con và duyên cha mẹ với con.

Xem con cái qua bát tự: cung tử tức và con tinh

Trong tứ trụ, con cái được đọc ở hai chỗ: trụ giờ, gọi là cung tử tức, và con tinh, tức hành đại diện cho con. Với nữ mệnh, con tinh là thực thần và thương quan. Với nam mệnh, con tinh là chính quan và thất sát. Bài gốc của china95.net tập hợp rất nhiều câu quyết về hai chỗ này. Điều đáng chú ý là phần lớn các câu ấy nói về quan hệ cha mẹ và con, chứ không chỉ nói về số lượng.

Cung con và con tinh

Trụ giờ là cung của con cái, đồng thời là cung của hậu vận. Vì vậy trụ giờ tốt thường đi kèm hai việc: con cái thuận và tuổi già an. Trụ giờ bị xung phá thì cả hai đều động.

Con tinh cho biết chất lượng mối quan hệ. Con tinh hữu lực, không bị chế quá mức, thì con khỏe và gần cha mẹ. Con tinh nhược, bị xung khắc, lạc Không Vong hoặc nhập mộ thì duyên con mỏng, hoặc con ở xa, hoặc cha mẹ và con khó hiểu nhau.

Dấu hiệu con cái tốt

  • Quan tinh sinh vượng, lại có Trường Sinh ngay ở trụ giờ: con thông minh, sáng sủa, dễ thành đạt.
  • Quan tinh đóng ở đất Đế Vượng: con hiển vinh.
  • Cung thê lộ rõ: con cái đông.
  • Nhật chủ vượng, có thực thương mà không có ấn thụ: con đông và nối dòng.
  • Thương quan gặp tài: có con. Thất sát có chế: nhiều con.
  • Tài và quan sinh ở trụ giờ, lại ở đất sinh vượng: con là người giúp nước, gây dựng gia đình.
  • Thực thần độc thấu và làm dụng thần: có con, có thọ.
  • Quan tinh đắc lộc ở trụ ngày hoặc trụ giờ: con đỗ đạt.
  • Thất sát có chế hóa thành quyền: con có chí lớn.
  • Trụ giờ được quý nhân ngày: về già thêm con quý. Bốn ngày được nhắc là Đinh Dậu, Đinh Hợi, Quý Mão, Quý Tỵ.
  • Thực thần làm dụng thần: con hiếu thuận. Thất sát ở trụ giờ mà có thực thương chế: con có địa vị.
  • Ấn đóng ở cung con: con hiếu thuận, tự lập được gia đình.
  • Nữ mệnh gặp Thiên Đức, Nguyệt Đức: sinh con dễ đỗ đạt.
  • Trụ giờ ngồi tài tinh: con dựng được nhà, hiếu thuận và đủ ăn.
  • Trụ giờ ngồi thực thần: con xinh, khỏe mập. Trụ giờ là chính quan: con tướng mạo đầy đặn, tính ôn hòa, trung hậu.

Con cái và các sao phụ ở trụ giờ

  • Trụ giờ hoặc con tinh gặp Hoa Cái: con thông minh nhưng tính cô độc, có khi chỉ có con gái.
  • Gặp Đào Hoa: con phong lưu, dễ vướng chuyện tình cảm.
  • Gặp Dịch Mã: con sinh ở nơi xa, hoặc lớn lên sẽ đi xa.
  • Gặp Thiên Đức, Nguyệt Đức: con hiền lành, hiếu thuận.
  • Gặp Trường Sinh: con đông và sống lâu.
  • Có quý nhân trợ: con sáng dạ, khá giả.

Dấu hiệu khó về con

Đây là phần nặng nề nhất của bài gốc, và cũng là phần cần đọc dè dặt nhất. Các câu được nêu gồm: tháng mang thất sát thì con sinh ra xa cha; trụ giờ có thương quan thì con khó dạy; trong cục thực thương quá nhiều thì khó có con; ấn và kiêu thần mạnh cũng khó có con; cung con gặp mộ thì con ít, hoặc hay bệnh, hoặc vướng lao lý, hoặc khó nuôi.

Một số câu khác: sát gặp hình thì khắc con; nữ mệnh phạm thương quan và thiên ấn thì hại con và hại chồng; ngày và giờ là Thìn Tuất xung nhau thì con khó đỗ đạt; nữ mệnh trụ giờ gặp Hoa Cái lại thêm Không Vong thì hiếm con; thực thần trùng điệp mà kiêu thần quá vượng thì không có sữa; nữ mệnh quan tinh ở đất tử lại bị tiết khí quá nhiều thì khó có con; bốn chi Thìn Tuất Sửu Mùi đủ thì vừa khắc chồng vừa khó sinh; nữ mệnh sinh vào đất Mộc Dục thì con đầu dễ mất; ngày gặp hình xung phá hội dương nhận thì khắc con đầu.

Còn nữa: thương quan quá vượng thì phải nuôi con của chị em; thất sát hai đầu thì về già không có người nối dõi; thực thần phá dụng thần thì con làm bại gia; nhật chủ vượng mà thực thương và quan sát đều lạc Không Vong thì không có con; năm tháng tài tinh khắc ấn ở trụ giờ thì phòng con tàn tật; quan tinh ở trụ giờ không có khí thì có con mà khó nuôi; trụ giờ có thương quan thì con khó theo nghiệp học; trụ giờ ngồi thiên ấn thì tính con không tốt; trụ giờ ngồi kiếp tài thì con đông mà phá gia; trụ giờ là thất sát không có thực chế thì con tính thô lỗ, không nghe lời; trụ giờ ở đất Tuyệt thì phòng không có người nối dõi; bát tự đầy thất sát mà không có chế thì không có con.

Nhóm câu này dày đặc và trùng lặp, vì chúng được gom từ nhiều sách khác nhau. Điều cần rút ra không phải là thuộc lòng, mà là nhận ra mẫu số chung: cung con bị xung phá, con tinh bị chế quá mức, hoặc bị đè bởi ấn và kiêu. Ba tình huống ấy mới là điều đáng lưu ý.

Chuyện con đầu lòng

Bài gốc có nhóm câu riêng về giới tính con đầu: nam mệnh mà can giờ khắc can ngày, hoặc nữ mệnh mà can ngày khắc can giờ, thì con đầu thường là trai; ngược lại thì thường là gái; can giờ là tỷ kiếp, hoặc can ngày và can giờ tương sinh, cũng nghiêng về gái.

Đây là quy tắc cứng, thiếu cơ sở lý thuyết và thực tế hay sai. Nên xem là ghi chép cổ pháp, không phải công cụ dự đoán.

Đọc thế nào cho có ích

  • Ưu tiên ba câu hỏi: trụ giờ có bị xung phá không, con tinh có lực không, con tinh có phải hỷ dụng thần không.
  • Đừng đếm số con từ lá số. Cổ pháp có câu về số con, nhưng điều kiện sống và y tế ngày nay đã khác hoàn toàn.
  • Bỏ phần định kiến: nhiều câu trong bài gốc mang nặng tư tưởng trọng nam và phán xét người nữ. Giữ phần logic về quan hệ, bỏ phần quy kết đạo đức.
  • Dùng để hiểu vì sao cha mẹ và con hay va nhau, thay vì để dự báo. Trụ giờ xung ngày thường ứng với việc con muốn tách ra sớm, và đó là chuyện bình thường của một gia đình.
Chia sẻFacebookZalo

Bình luận

Đăng nhập để bình luận.

  • Chưa có bình luận nào.