Bỏ qua tới nội dung

Xem vận hạn lưu niên: ba lớp cục, vận, năm

Đại vận mở khóa điều gì trong cục, lưu niên kích hoạt ra sao, và những dạng xung hình nào đáng lo. Bài hệ thống các câu quyết về vận hạn.

Xem vận hạn lưu niên: ba lớp cục, vận, năm

Luận vận hạn là phần thực dụng nhất của tứ trụ, và cũng là phần dễ bị lạm dụng nhất. Bài gốc của china95.net gom hai nhóm câu quyết: dụng thần gặp vận gì thì phát, gặp vận gì thì họa; và ba lớp cục, đại vận, lưu niên va vào nhau thì sinh chuyện gì. Nguyên tắc chung chỉ một: vận không tạo ra thứ không có trong cục, vận chỉ mở khóa cái đã có.

Ba lớp chồng lên nhau

Lớp thứ nhất là nguyên cục, tức bốn trụ, cố định cả đời. Lớp thứ hai là đại vận, mười năm một bước, quyết định giai đoạn. Lớp thứ ba là lưu niên, mỗi năm một can chi.

Cùng một chữ đến, ý nghĩa khác nhau ở ba lớp: trong đại vận là xu hướng mười năm, trong lưu niên chỉ là sự kiện của năm. Khi luận phải nói rõ chữ ấy ở lớp nào.

Bốn giai đoạn của một đời

Bài gốc chia đời người theo bốn trụ: trụ năm ứng từ lúc sinh đến 15 tuổi, trụ tháng ứng 16 đến 30, trụ ngày ứng 31 đến 46, trụ giờ ứng 47 đến 65. Trụ năm và trụ tháng là cung cha mẹ, trụ ngày là cung vợ hoặc chồng, trụ giờ là cung con cái. Cách chia này buộc phải gắn sự kiện với thời điểm.

Dụng thần gặp vận

  • Thương quan làm dụng thần mà đại vận hoặc lưu niên gặp thất sát, hoặc gặp chính quan, là đại kỵ: dễ đứt duyên, dính kiện cáo, mất tiền.
  • Chính quan làm dụng thần mà gặp thương quan: cùng nhóm hậu quả như trên.
  • Thân vượng mà bốn trụ đã hết quan tinh, gặp vận tài thì phát.
  • Dùng quan mà lại có thương quan: hay nhất là vào vận tài và vận ấn, vì tài sinh quan và ấn chế thương.
  • Dụng thần đến đúng vị trí trong đại vận thì mười năm ấy bình an, hưng vượng. Đây là câu quan trọng nhất trong cả bài: vận tốt là vận đưa dụng thần tới.
  • Cục hỷ thực thần mà gặp vận kiêu thần thì đoạn ấy không tốt, việc nhiều rối, ảnh hưởng tới sức khỏe và công việc.

Tài quan và chuyện phát đạt

  • Cục có tài quan, thân lại vượng, gặp vận tài quan thì thăng quan phát tài.
  • Ngày ngồi trên tài, gặp vận tài thì phát.
  • Thương quan, ấn, tỷ kiếp có đủ mà tài tinh yếu, gặp vận tài thì phát.
  • Tháng có kiến lộc, chỉ cần thấy tài quan là tự nhiên phát.
  • Thân nhược mà tài nhiều, gặp vận tỷ kiếp thì phát.
  • Nhật chủ vượng mà tài quan yếu, vào vận tài quan thì danh lợi đều tới.
  • Quan tinh trong cục bị lưu niên hoặc đại vận hợp mất thì có việc chuyển chức. Đây là cách đọc rất thực dụng: hợp mất quan tinh thường là đổi chỗ làm.
  • Thiên tài nhập kho, gặp năm xung kho thì phát rất mạnh.

Nhóm dấu hiệu bất lợi

  • Thân và sát đều vượng mà không có chế, lại vào vận sát vượng: sang nhưng không bền. Thân sát ngang nhau thì thà vào vận phù thân.
  • Nhiều kiếp tài mà gặp vận kiếp tài: nghèo mà long đong.
  • Trong cục có dương nhận, vận và năm cùng gặp dương nhận: tiền của hao tán.
  • Thương quan gặp vận thương quan: bệnh dai dẳng.
  • Thân vượng tài yếu, vào vận tỷ kiếp: bệnh và mất tiền.
  • Cục không có quan tinh mà thương sát nặng, vào vận quan thì nhẹ là bệnh mắt, nặng là tai họa.
  • Quan nhiều thân nhược mà vào vận tài: phòng tai họa về quan sự. Quan quý quá thịnh mà vào vận vượng: dễ đổ.
  • Ấn gặp vận tài thì bất lợi cho công danh; thi cử kỵ nhất cảnh thương quan gặp quan.

Ba lớp va chạm

  • Đại vận và lưu niên hình với cục, dù hình vào hỷ thần hay kỵ thần, đều chủ không tốt.
  • Thiên khắc địa xung giữa vận, năm và cục: chủ hung, xung vào đúng giai đoạn đang sống thì càng nặng. Thiên tỷ địa xung, thiên khắc địa tỷ cũng vậy.
  • Một chi xung ba chi, một can khắc ba can: phòng tai nạn bất ngờ. Một chi hợp bốn chi: chủ sóng gió tình cảm, bệnh tật, hao tài.
  • Sáu địa chi hợp thành hai nhóm tam hợp hoặc phương hợp mà lại khắc nhau, ví dụ Thân Dậu Tuất hợp kim khắc Hợi Mão Mùi hợp mộc: đại họa.
  • Hai chi xung một chi, nếu chi bị xung là cung vợ thì vợ có chuyện, là cung cha mẹ thì cha mẹ có chuyện, là cung con thì con có chuyện.
  • Ba hình xuất hiện hai nhóm và hình vào chính ấn: phòng mất mẹ; hình vào thiên tài: phòng mất cha; hình vào chính tài: phòng mất vợ; hình vào thực thương: phòng mất con.
  • Can năm bị can lưu niên khắc, chi năm lại nhập mộ của chi lưu niên: phòng cha có chuyện.
  • Trụ giờ xung khắc trụ năm, lại thêm tuế vận xung khắc: cha mẹ có chuyện, người trong nhà khó có mặt lúc cuối.

Phụ nữ và vận hôn nhân

Bài gốc có nhóm câu riêng cho nữ mệnh: tài quan đều đủ mà vào vận thương quan, kiếp tài thì khắc chồng; trong cục có quan tinh mà vào vận quan cũng vậy. Đây là cách nhìn cũ, trong đó người nữ được đo bằng hôn nhân. Ngày nay nên đọc lại thành: vận quan tinh mạnh thường ứng với áp lực từ công việc hoặc từ bạn đời, và áp lực ấy cần được quản lý.

Các dấu hiệu lẻ nhưng hữu ích

  • Vận gặp sao Đào Hoa: nhiều duyên với người khác giới; nếu Đào Hoa mang dương nhận mà bị xung thì phòng vì sắc mà vướng hình.
  • Cục có quan tinh mà vận, năm gặp thương quan: năm ấy dễ bị thương tích.
  • Vận và trụ hợp thành tam hợp tài cục, thân vượng thì tiền rất tốt; thân nhược thì hao tiền.
  • Tuổi già gặp vận mã tinh: khí hư, đau lưng và chân. Cục có mã tinh mà gặp vận tài hoặc năm tài thì phát mạnh.

Cách dùng cho đúng

Lập bảng ba cột: cục, đại vận, lưu niên; đánh dấu chữ trùng, chữ xung, chữ hợp. Rồi trả lời theo thứ tự: dụng thần có bị phạm không, có hình xung vào cung nào không, thần sát có gì. Thứ tự này quan trọng vì thần sát là lớp cuối.

Cuối cùng, phải bỏ những câu dạng cha mẹ ắt mất, con ắt mất. Chúng thuộc về một thời chưa có y tế và chưa có luật hôn nhân, giữ lại chỉ làm người hỏi hoang mang.

Chia sẻFacebookZalo

Bình luận

Đăng nhập để bình luận.

  • Chưa có bình luận nào.