Bỏ qua tới nội dung

Cấu trúc lá số tử vi: 12 cung, cách an sao và các tầng vận

Lá số tử vi dựng từ ngày giờ sinh ra sao, 12 cung và cung Thân nói điều gì, đại hạn lưu niên và tứ hóa vận hành thế nào, cùng những thuật ngữ tối thiểu phải nắm trước khi luận giải.

Cấu trúc lá số tử vi: 12 cung, cách an sao và các tầng vận

Tử vi (Tử Vi Đẩu Số) lấy ngày tháng năm giờ sinh làm nguyên liệu, đem 14 chính tinh cùng hơn trăm sao lớn nhỏ rải vào 12 cung. Trình tự: định cung Mệnh và cung Thân, định ngũ hành cục, an sao Tử Vi, mười ba chính tinh còn lại theo đó mà đặt, rồi an các sao phụ, tá, sát, tạp theo năm tháng ngày giờ. Thao tác ấy gọi là khởi bàn, an sao hay bố sao, sản phẩm là thiên bàn. Từ vị trí các sao và quan hệ giữa chúng mà suy ra phúc họa, quan lộc của một đời.

Nét riêng của môn này là mỗi chính tinh có tính cách riêng: Tử Vi như đế quân, Thiên Cơ như mưu thần, Thiên Lương như vị quan thanh liêm, Phá Quân như chiến tướng. Lấy cấu trúc xã hội loài người ví với các sao để đoán mệnh. Nhưng xã hội hiện đại đã khác xa, nên phần nào kết luận dựa trên văn hóa cổ nay không còn đúng hết.

Mệnh chủ, Thân chủ và Đẩu Quân

Mệnh chủ là phần tính sẵn có từ trước khi sinh, lấy theo chi cung Mệnh: Tý Tham Lang, Sửu Cự Môn, Dần Lộc Tồn, Mão Văn Khúc, Thìn Liêm Trinh, Tỵ Vũ Khúc, Ngọ Phá Quân, rồi lặp nửa vòng: Mùi Vũ Khúc, Thân Liêm Trinh, Dậu Văn Khúc, Tuất Lộc Tồn, Hợi Cự Môn.

Thân chủ là phần tạo tác hậu thiên, chỗ cố chấp của một đời, lấy theo chi năm sinh: Tý là Hỏa Tinh, Sửu Thiên Tướng, Dần Thiên Lương, Mão Thiên Đồng, Thìn Văn Xương, Tỵ Thiên Cơ, rồi lặp nửa vòng: Ngọ Hỏa Tinh, Mùi Thiên Tướng, Thân Thiên Lương, Dậu Thiên Đồng, Tuất Văn Xương, Hợi Thiên Cơ. Cả hai đều ưa rơi vào Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc, Điền Trạch, Tử Nữ, Phu Thê, Phúc Đức, gặp chính tinh Miếu Vượng hay Trường Sinh, Đế Vượng; rơi vào Giao Hữu, Tật Ách, Thiên Di, Phụ Mẫu thì kém.

  • Đẩu Quân chia tháng: từ tháng sinh tính ngược khởi tại cung Mệnh, rồi theo giờ sinh tính thuận, cung dừng lại là Đẩu Quân, đồng thời là tháng Giêng của lưu niên.
  • Lưu niên lấy chi Thái Tuế: năm Giáp Tý thì lưu niên Mệnh cung ở Tý. Lưu nguyệt nhiều cách, ví dụ Đẩu Quân ở Phụ Mẫu bản mệnh thì tháng Giêng tính từ cung đó.

Mười hai cung và cung Thân

Không phân nam nữ, 12 cung tính nghịch từ cung Mệnh: Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Nữ, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Giao Hữu, Sự Nghiệp, Điền Trạch, Phúc Đức, Phụ Mẫu. Cung Thân ký ở một trong sáu cung Mệnh, Phu Thê, Tài Bạch, Thiên Di, Sự Nghiệp, Phúc Đức.

  • Phu Thê, Tử Nữ, Phụ Mẫu, Huynh Đệ: duyên nợ với vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh em; Huynh Đệ còn suy được bạn thân và đối tác.
  • Tài Bạch, Điền Trạch: tiền của nhiều ít, tính chất nguồn thu, vận nhà cửa và nghiệp tổ tiên.

Cung có âm dương: ba hóa cát của năm sinh nhập cung dương chủ quý, nhập cung âm chủ phú. Sáu cung nội Mệnh, Phu, Tài, Di, Quan, Phúc chủ tự lực; sáu cung ngoại Huynh, Tử, Tật, Hữu, Điền, Phụ chủ được che chở.

Ba tầng vận

Thiên bàn là lá số dựng từ ngày sinh, tính tĩnh, cho biết vận tiền định cùng hoàn cảnh xuất thân, bệnh sẵn có. Tiền định mạnh mà hậu thiên cũng tốt thì đi đâu cũng thuận; tiền định yếu, hậu thiên trì trệ thì khó ngóc đầu. Phần lớn là cát hung lẫn lộn, nên nắm vận tốt và né vận xấu mới là việc quan trọng.

Đại hạn lấy một cung chủ mười năm, khởi từ Mệnh. Dương nam âm nữ đi thuận (Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức...), dương nữ âm nam đi nghịch (Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê...). Tuổi bắt đầu do ngũ hành cục quyết định: dương nam Thổ Ngũ cục thì đại hạn đầu ở Mệnh từ 5 đến 14 tuổi. Thêm vận diệu khởi theo can cung đại hạn Mệnh: Kình Dương, Đà La, Lộc Tồn, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Khúc, Văn Xương và tứ hóa đại hạn.

Lưu niên dùng lưu bàn, lấy chi của năm định vị trí lưu niên Mệnh cung: năm Kỷ Mão thì lưu niên Mệnh ở Mão, Phu Thê ở Sửu. Lưu diệu khởi theo can năm. Tiểu hạn lấy chi năm sinh khởi, mỗi năm một cung, nhưng máy móc nên chỉ để tham khảo.

Tứ hóa

Bốn hóa không phải sao độc lập, chúng do thiên can mà biết ngôi sao nào hóa: thiên bàn theo can năm sinh, đại hạn theo cung đại hạn, lưu niên theo can năm. Sau khi hóa, mặt tính chất nào đó của sao được tăng cường, chuyển hướng hoặc giảm yếu; các tầng có thể khiến cùng một sao hóa chồng lên nhau.

  • Hóa Lộc tăng tính tài lộc; Hóa Quyền tăng quyền lực hoặc độ ổn định; Hóa Khoa tăng danh dự uy tín; Hóa Kỵ tăng khuyết điểm. Lộc, Quyền, Khoa là cát hóa, Kỵ thiên về bất lợi.

Thuật ngữ tối thiểu

  • Dương can là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; âm can là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Một can ghép một chi thành trụ, ghép vòng được sáu mươi tên gọi.
  • Mỗi cung có can chi riêng; nạp âm cung Mệnh quyết định ngũ hành cục: Thủy Nhị, Mộc Tam, Kim Tứ, Thổ Ngũ, Hỏa Lục.
  • Bản cung là cung đang luận; đối cung cách sáu ô; tam hợp cung cách bốn ô; tam phương tứ chính là bản cung cộng tam hợp cộng đối cung; lân cung là hai cung kề.
  • Thiên La Địa Võng là Thìn và Tuất; tứ sinh địa là Dần, Thân, Tỵ, Hợi; tứ vượng địa là Tý, Ngọ, Mão, Dậu, còn gọi tứ đào hoa địa; tứ mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
  • Lục cát tinh: Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt. Lục hung tinh: Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La; bốn sao đầu nhóm này gọi là tứ sát. Đối tinh là cặp luôn đi với nhau: Phủ với Tướng, Nhật với Nguyệt, Xương với Khúc, Tả với Hữu, Linh với Hỏa, Không với Kiếp.
  • Không cung mượn sao đối cung gọi là tá tinh. Miếu, Vượng, Đắc, Lợi, Bình, Bất, Hãm chỉ là một lớp; tổ hợp sao quyết định hơn.

Nguyên tắc đọc lá số

  • Xem cung nào cũng gộp tam phương tứ chính mà luận, không lấy hai ba sao trong bản cung để kết luận.
  • Tìm cung yếu nhất rồi xem đại hạn nào khiến cung đó gặp sát lần nữa; chuyện đổ vỡ thường xảy ra đúng đại hạn ấy.

Cuối cùng là tinh thần trung dung: quá cương thì gãy, quá nhu thì yếu, đẹp nhất là cương nhu vừa phải.

Chia sẻFacebookZalo

Bình luận

Đăng nhập để bình luận.

  • Chưa có bình luận nào.