Tam hợp, lục xung, lục hợp, lục hại giữa các cung
Bốn kiểu quan hệ giữa các cung trong tử vi, mức mạnh yếu của từng kiểu, và những cặp phối hợp như minh lộc ám lộc, khoa minh lộc ám, văn tinh ám củng.
Các cung trong lá số ảnh hưởng lẫn nhau, giống như người với người ảnh hưởng lẫn nhau. Trong tử vi, ảnh hưởng giữa các cung mạnh nhất là tam hợp và lục xung. Lục hợp, lục hại, tam hình, tự hình thì yếu hơn, người mới học có thể tạm bỏ qua.
Tam hợp
Địa chi tam hợp, đúng như tên gọi, hàm nghĩa phối hợp, hòa vào nhau. Mười hai chi có bốn nhóm tam hợp: Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa, Hợi Mão Mùi hợp Mộc, Thân Tý Thìn hợp Thủy, Tỵ Dậu Sửu hợp Kim.
Ví dụ một người có cung Mệnh ở Ngọ, được Tử Vi miếu đóng giữ, lúc ấy Vũ Khúc ở cung Dần hóa Lộc. Theo lẽ tam hợp, có thể kết luận cung Tài Bạch của người này có Vũ Khúc hóa Lộc, phối hợp được với Tử Vi ở Mệnh, để Tử Vi hút lấy và hòa vào cái khí tài lộc của Vũ Khúc, khiến mức hưởng thụ vật chất tăng lên.
Muốn dễ hình dung thì lấy chuyện ra ngân hàng rút tiền: người đi rút phải mang thẻ, phải nhập đúng mật khẩu, lại phải trong máy có đủ tiền thì việc rút mới thành. Ở đây người là cung Mệnh, máy rút tiền là cung Tài Bạch tức đường tiền vào, còn thẻ và mật khẩu là cung Sự Nghiệp; ba bên phối hợp với nhau, hỏng một khâu là việc rút tiền không trôi, thậm chí không rút được.
Cho nên tam hợp của cung Mệnh mà gặp cát tinh, cát hóa thì thường là việc tốt, chủ có tiền có địa vị; nếu gặp sát tinh, hóa kỵ thì thường chủ đời không thuận, không hạnh phúc. Điều này cũng có ngoại lệ: một số sao đóng Mệnh vốn ít sợ sát tinh và hóa kỵ hơn các sao khác.
Lục xung
Địa chi lục xung mang sức đánh, ngược hẳn với phối hợp. Ví như xem một trận bóng: đội này tấn công từ trái sang phải, đội kia từ phải sang trái, hai hướng ngược nhau và cùng muốn tràn vào phần sân đối phương, đó là hiệu ứng của lục xung.
Nếu xung với cát tinh, cát hóa thì thường là tốt. Giống người chơi cờ ngày nào cũng đấu với cao thủ, trình lên nhanh, lại học được kỹ thuật của đối phương, tức là được lợi từ phía đối diện. Nếu xung với sát tinh, hóa kỵ thì thường là xấu, khác nào đánh cờ với kẻ dữ không biết lý lẽ, vừa đánh vừa chê bai, thậm chí lật bàn đòi đánh nhau, mang lại bực bội và có khi cả thương tích.
Lục xung có sáu cặp: Dần xung Thân, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Tỵ xung Hợi, Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi. Lực xung là hai chiều, nhưng vì bản thân mỗi cung mạnh yếu khác nhau, tính chất bên trong khác nhau, nên có cung không sợ bị sát tinh xung, có cung rất sợ; có cung bị xung động lại chủ tốt, có cung bị xung động lại chủ xấu. Chuyện này không thể nói gọn vài câu, người mới nên tạm gác lại, khi nền tảng vững sẽ tự hiểu.
Lục hợp
Lục hợp có chữ hợp nên cũng hàm nghĩa phối hợp, nhưng lực không bằng tam hợp. Sáu cặp là: Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tỵ hợp Thân, Ngọ hợp Mùi. Trên lá số, kẻ một đường dọc ở giữa, hai cung nào đối xứng trái phải là hai cung lục hợp của nhau.
Ví dụ dễ hiểu: người ra khỏi nhà đi ngân hàng, vừa bước ra đã có taxi, nhờ xe nên tới nhanh. Ở đây chiếc xe có trợ lực, đang phối hợp với người ấy, thuộc sức mạnh của cung lục hợp. Nhưng nếu không đi taxi mà đi bộ thì vẫn tới ngân hàng rút được tiền, kết quả không đổi. Vì thế lục hợp tuy có sức phối hợp nhưng rốt cuộc không bằng tam hợp: nếu không mang thẻ, không có giấy tờ, thì dù có người lái xe sang tới đón cũng không rút được tiền.
Trong lá số, cung lục hợp với một cung mà có nhiều cát tinh, cát hóa thì đóng vai trò thêm hoa trên gấm, ít nhất cũng làm quá trình trôi chảy hơn; nếu nhiều sát tinh, hóa kỵ thì ít nhiều gây trở ngại, ít nhất cũng làm quá trình kém suôn sẻ.
Tổ hợp sao trong cung lục hợp rất quan trọng. Khác với thế chiếu sáng rõ của tam phương tứ chính, người xưa gọi lục hợp là ám củng hay ám hợp, và để lại những cặp như minh lộc ám lộc, khoa minh lộc ám, văn tinh ám củng.
- Minh lộc ám lộc: cung Mệnh có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, cung lục hợp với nó lại có thêm Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, hai bên làm mạnh cho nhau.
- Khoa minh lộc ám: cung Mệnh có Hóa Khoa, cung lục hợp lại có Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, khiến sức của Hóa Khoa lớn thêm.
- Văn tinh ám củng: cung lục hợp với cung Mệnh có Văn Xương, Văn Khúc. Người xưa trọng khoa cử nên hay nghiên cứu hai sao này; chúng nằm trong tam phương tứ chính của Mệnh thì ảnh hưởng tới vận thi cử rất lớn, mà nếu không nằm trong tam phương tứ chính nhưng nằm ở cung lục hợp của Mệnh hay của Sự Nghiệp thì cũng ảnh hưởng, chỉ là nhẹ hơn.
Lục hại
Lục hại mang nghĩa làm hại, gây tổn hại, ngược với lục hợp. Sáu cặp là: Tý hại Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tỵ, Mão hại Thìn, Thân hại Hợi, Dậu hại Tuất. Trên lá số, kẻ một đường ngang ở giữa, hai cung nào đối xứng trên dưới là hai cung lục hại.
Sức của lục hại tương đương lục hợp, cả hai đều không mạnh bằng tam hợp và lục xung. Xin lưu ý, đừng thấy chữ hại là nghĩ ngay tới chuyện dữ, vẫn phải xem mạnh yếu và tính chất bên trong của hai cung.
Ví dụ cung Mệnh ở Tuất, cung Phụ Mẫu ở Hợi, và cung Phụ Mẫu lại lập thành lục hại với cung Phu Thê, thì điều đó cho thấy cha mẹ can thiệp vào đời sống hôn nhân của mình. Thường thấy nhất là bị cha mẹ ép cưới, hoặc chịu ảnh hưởng trực tiếp của cha mẹ khi chọn vợ chồng, khiến hôn nhân không ổn định. Nhưng có ly hôn hay không thì vẫn phải xem toàn cục, không thể chỉ nhìn lục hại mà kết luận.
Bài gốc còn nhắc rằng lục hợp và lục hại có hai đặc điểm riêng, nhưng phần liệt kê hai đặc điểm ấy bị cắt, nên ở đây chỉ giữ được phần quan hệ giữa các cung và các ví dụ đi kèm.