Thiên Phủ và Thái Âm: ưu nhược điểm, nam nữ mệnh
Hai chính tinh thuộc hệ Thiên Phủ: Thiên Phủ thiên về giữ thành và quản trị, Thái Âm thiên về cảm xúc và tích lũy, kèm mặt mạnh, mặt yếu và khác biệt nam nữ mệnh.
Đây là nửa sau của loạt bài về mười bốn chính tinh, nhưng bản gốc chỉ còn lại hai sao cuối cùng của hệ Thiên Phủ là Thiên Phủ và Thái Âm, nên bài giữ đúng phạm vi đó. Cách trình bày giống nửa đầu: tính cách chung, mặt mạnh, mặt yếu, rồi khác biệt giữa nam mệnh và nữ mệnh.
Thiên Phủ
Tính cách gói trong bốn chữ: giữ thành, bảo thủ, an định, bố thí, cộng thêm quản lý. Sức quản lý và khống chế mạnh, nhìn ra việc gì cần kiểm soát và kiểm soát được ngay trong quá trình diễn ra, không đợi tới lúc hỏng mới sửa.
- Mạnh: chí tiết cao, trọng phẩm hạnh và nguyên tắc, xử việc điềm đạm, giàu năng lực hoạch định, là tay quản tiền giỏi, lòng dạ tốt, chọn bạn mà chơi, trọng nghĩa với bạn bè, có lòng thương, có lộc ăn uống, đời thường ổn định bằng phẳng.
- Yếu: cậy tài mà kiêu, tự đánh giá mình cao, sĩ diện nên hay tỏ ra hào phóng quá sức, sợ cô đơn thích đông vui, ý chủ quan mạnh, không cam chịu ở dưới người khác, thích tranh quyền đoạt lợi, mê món ngon mà dễ chê bai.
Nam mệnh thông minh cơ trí, có tài lãnh đạo, xử việc vững, có chí tiến thủ, hợp với đường buôn bán, hứng thú rộng, học nhiều biết nhiều, đầu óc linh hoạt, phản ứng nhanh, suy một ra ba, nhưng nên coi chừng cái tật nhìn người theo lợi.
Nữ mệnh thanh tú, khí chất cao nhã, có vẻ quý phái, tinh khôn và có khí thế áp người, thích nắm quyền, trong tình cảm khá lý trí, nấu ăn khéo, gu ăn mặc cao và kỹ tính chuyện thể diện.
Điều đáng chú ý là bốn chữ giữ thành và bảo thủ không có nghĩa là kém cỏi. Thiên Phủ mạnh ở chỗ biết cái gì đã có thì phải giữ, cái gì đang chạy thì phải kiểm soát, nên hợp với vai trò quản trị, điều hành, giữ vốn hơn là vai trò khai phá. Cái yếu của nó cũng từ đây mà ra: đã quen giữ thì ngại mạo hiểm, đã quen kiểm soát thì dễ thành gia trưởng, đã sĩ diện thì dễ tiêu quá khả năng.
Thái Âm
Tính cách nghiêng về lãng mạn, ưa sạch sẽ, kín đáo, khéo léo. Người Thái Âm thông minh, thanh tú mà có tâm cơ, nghĩ nhiều lo nhiều, làm việc cầu toàn, đôi khi quá tỉ mỉ tới mức nhỏ nhặt.
- Mạnh: rất biết tạo thú vui trong đời sống, hứng thú rộng, ưa sạch, chăm chút quần áo và thể diện, nhẹ nhàng dịu dàng, quan hệ tốt, giàu lòng thương, hướng nội bảo thủ nhưng giữ chữ tín, kín miệng giữ được chuyện, nhớ cũ, trọng tình.
- Yếu: tính gấp mà động tác chậm, thiếu nhẫn nại, trong tình cảm thiếu lý trí, dễ xúc động, dựa dẫm nhiều, thích trang điểm, có tật sạch sẽ quá mức, đa sầu đa cảm, nhút nhát, thiếu khí phách, làm việc hay dây dưa.
Nam mệnh thông minh văn tĩnh, đãi người hòa nhã, lòng mềm, có lòng thương, dáng vẻ nho nhã, việc gì cũng nghĩ đi nghĩ lại, quan sát tinh tế, trong lòng nóng mà ngoài mặt e thẹn, đúng như câu thân nam nhi lòng nữ nhi.
Nữ mệnh dịu dàng săn sóc, hơi trẻ con, dựa dẫm nhiều, đa tình lãng mạn và tình cảm tinh tế, thân hình đầy đặn, có lòng thương mẫu tử, chăm chồng chăm con không sót việc gì, tính gấp mà thiếu chủ kiến, nhưng là mẫu người vợ hiền chuẩn mực.
Có thể thấy Thái Âm và Thiên Phủ tuy cùng hệ nhưng khác hẳn nhau về chất. Thiên Phủ hướng ra ngoài, thiên về quản lý và giữ của; Thái Âm hướng vào trong, thiên về cảm xúc và tích lũy. Cùng một chữ giữ, Thiên Phủ giữ bằng quy tắc, Thái Âm giữ bằng tình cảm và ký ức. Cũng vì vậy mà Thái Âm dễ bị tổn thương bởi hoàn cảnh hơn, và cái đẹp của nó thường đi kèm sự nhạy cảm.
Đọc bảng ưu nhược điểm thế nào
- Đây là mô tả ở mức tính cách chung của sao, chưa tính cung vị, tổ hợp sao đi kèm và tứ hóa, nên chỉ dùng làm la bàn ban đầu.
- Phần nam mệnh và nữ mệnh phản ánh vai trò xã hội và cách giáo dục nhiều hơn là bản chất sao, vì thế khi xã hội đổi thì cách đọc cũng phải đổi.
- Một người có thể mang vài nét trái ngược với mô tả, khi ấy phải tìm nguyên nhân ở cung Mệnh bị sao khác chi phối, ở cung Thân, hoặc ở tứ hóa chứ không phải vội kết luận là sai giờ sinh.
Dùng bảng này để đối chiếu với con người thật, thấy chỗ khớp thì ghi nhận, chỗ lệch thì truy nguyên, đó là cách học tính sao nhanh nhất.